KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN

Đã có nhiều từ điển, công trình nghiên cứu ở nước ta đề cập đến khái niệm giám sát2 với nhiều cách tiếp cận khác nhau và đưa ra những cách hiểu khác nhau về giám sát, nhưng đều thống nhất với những điểm chung là: 1) Giám sát là việc theo dõi, kiểm tra việc thực hiện công việc (hoạt động) của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có đúng với quy định hay không; 2) Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định và luôn luôn gắn với một đối tượng cụ thể; 3) Giám sát luôn gắn với mục đích cốt lõi nhằm phát hiện những vi phạm, hạn chế trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát để kiến nghị, yêu cầu xem xét, xử lý nhằm khắc phục vi phạm, hạn chế; góp phần bảo đảm chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này theo đúng quy định của pháp luật.

Đến nay, đã có nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước và các công trình nghiên cứu, bài viết có đề cập đến quyền, cơ chế và hoạt động giám sát của Nhân dân, nhưng khái niệm “hoạt động giám sát của Nhân dân” như thế nào thì đến nay vẫn chưa có văn bản của Đảng, Nhà nước xác định chính thức và cụ thể, mà chỉ được đề cập trong một số công trình nghiên cứu và bài viết.

Cụ thể như trong cuốn sách “Cơ chế pháp lý về giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội đối với các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay” do TS. Hoàng Minh Hội làm chủ biên, đã đưa ra khái niệm “giám sát của nhân dân” một cách chung nhất như sau: “Giám sát của nhân dân chính là do nhân dân thực hiện với tư cách là cá nhân, công dân hay cộng đồng thông qua các hình thức phù hợp (trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức của nhân dân)”3. Đồng thời, TS. Hoàng Minh Hội cũng đã đưa ra khái niệm cụ thể về giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước (một lĩnh vực giám sát của Nhân dân), đó là việc “theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị của các cá nhân hay cộng đồng dân cư trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội, báo chí, phương tiện truyền thông và các tập thể lao động đối với hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, các sở, phòng, ban nhằm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao”4.

Đồng thời, với khái niệm “giám sát của Nhân dân”, một số nghiên cứu cũng đưa ra khái niệm “giám sát xã hội” – một khái niệm về bản chất là đồng nghĩa với khái niệm “giám sát của Nhân dân”, như: “Giám sát xã hội đối với quyền lực nhà nước có thể được hiểu như sau: Quá trình các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội, giới truyền thông, thanh tra nhân dân và công dân quan sát, theo dõi, xem xét, đánh giá, tham vấn, đề nghị, kiến nghị các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức thực thi đúng những quy định của pháp luật, nhằm mục đích bảo đảm quyền lực nhà nước vận hành một cách khoa học, có hiệu lực, hiệu quả”5.

“Giám sát xã hội là sự vận hành của cả một hệ thống xã hội, bao gồm các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy nhà nước, các thiết chế văn hóa, các phương tiện thông tin đại chúng… và các công dân nhằm kiểm tra, cảnh báo, điều chỉnh hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm giữ và vận hành quyền lực nhà nước”6.

“Giám sát xã hội là sự theo dõi, quan sát, xem xét, đánh giá của xã hội đối với quyền lực chính trị/quyền lực nhà nước được thực hiện một cách trực tiếp hoặc bán trực tiếp. Giám sát xã hội cùng với giám sát của/trong Đảng, giám sát của/trong Nhà nước có tác dụng góp phần kiểm soát quyền lực chính trị, phát huy dân chủ, không ngừng tăng cường năng lực cộng sinh và chế ước của quyền lực xã hội trong quan hệ tương tác với quyền lực chính trị/quyền lực nhà nước”7…

Ngoài ra, cũng có công trình nghiên cứu đã đề cập đến thuật ngữ “giám sát chính trị – xã hội”, đồng nhất và coi “Sự kiểm tra, giám sát của nhân dân là sự kiểm tra, giám sát chính trị – xã hội”8; theo đó, giám sát của Nhân dân không chỉ mang tính nhân dân, tính xã hội, mà còn mang tính chính trị sâu sắc, không chỉ là phương thức thực hiện quyền lực xã hội, mà còn bao hàm thực hiện cả quyền lực chính trị.

Từ các quan niệm về hoạt động giám sát như đã trình bày ở trên, qua nghiên cứu chính sách, pháp luật và thực tiễn ở nước ta, có thể nhận thức bước đầu về hoạt động giám sát của Nhân dân ở nước ta như sau:

“Hoạt động giám sát của Nhân dân là một phương thức kiểm soát quyền lực thông qua việc theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị của Nhân dân (bao gồm cá nhân công dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội của công dân và các phương tiện thông tin đại chúng của Nhân dân) đối với cơ quan nhà nước, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật nhằm phòng chống sự tha hoá của quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của Nhân dân; kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý các sai phạm và sửa đổi chính sách, pháp luật phù hợp với ý chí và nguyện vọng của Nhân dân”.

Chủ thể hoạt động giám sát của Nhân dân

Từ khái niệm về hoạt động giám sát của Nhân dân nêu trên, căn cứ vào quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn những năm qua, có thể phân ra các nhóm chủ thể thực hiện hoạt động giám sát của Nhân dân như sau:

Một là, cá nhân công dân tiến hành các hoạt động giám sát đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện các quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định9 thông qua theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước, tổ chức Đảng và cán bộ, công chức, viện chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật.

Hai là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức xã hội của công dân. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận vừa trực tiếp đại diện Nhân dân thực hiện hoạt động giám sát, vừa là nòng cốt tổ chức để vận động, tổ chức để Nhân dân thực hiện quyền giám sát.

Ba là, các doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề. Đây là những chủ thể có vai trò quan trọng không chỉ trong nền kinh tế, mà còn trong kiểm soát quyền lực nhà nước, là đối tượng sử dụng dịch vụ công nhiều nhất (sử dụng pháp luật, chính sách phát triển kinh tế – xã hội) và do vậy cũng là những chủ thể thường xuyên có khả năng phải chịu tác động của sự lạm dụng quyền lực nhà nước. Do đó, để góp phần lành mạnh xã hội cũng như môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp phải tham gia và phải đóng vai trò tích cực trong hoạt động giám sát đối với hoạt động xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật của bộ máy nhà nước.

Bốn là, các Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng ở cơ sở. Đây là các tổ chức của quần chúng nhân dân, thay mặt Nhân dân thực hiện vai trò giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần phát huy dân chủ, đấu tranh phòng chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công dân, của cộng đồng dân cư, tập thể.

Năm là, các cơ quan, tổ chức báo chí, truyền thông. Đây là những chủ thể có vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động giám sát của Nhân dân bởi đây là các chủ thể có phương tiện và điều kiện để thực hiện hoạt động giám sát, góp phần làm tăng tính công khai, tính minh bạch trong các hoạt động công quyền, là công cụ hữu hiệu để thúc đẩy và làm chỗ dựa để hình thành dư luận xã hội của kiểm soát quyền lực từ phía Nhân dân, tạo cơ sở cho các chủ thể khác tiến hành giám sát.

Đối tượng giám sát của Nhân dân

Theo quy định của các văn bản của Đảng và pháp luật hiện hành, mọi cơ quan, tổ chức và hầu hết các cá nhân có thẩm quyền (người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan đảng, nhà nước) đều có thể là đối tượng giám sát của Nhân dân. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mục đích của hoạt động giám sát này, cần xác định rõ đối tượng giám sát của Nhân dân là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội và các cá nhân có thẩm quyền (người có chức vụ, quyền hạn) trong các cơ quan, tổ chức đó mà hoạt động của họ có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của Nhân dân, đó là:

Một là, các tổ chức Đảng và các đảng viên. Bởi theo quy định của Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và nhất là theo quy định của Hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, tổ chức và hoạt động “gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”10, “Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và phát luật”11.

Hai là, các cơ quan nhà nước, các tổ chức dịch vụ công và các cán bộ công chức, viên chức nhà nước. Đây là đối tượng cơ bản của hoạt động giám sát của Nhân dân, bởi quyền lực của Nhân dân chủ yếu giao cho cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ công chức, viên chức nhà nước, vì vậy rất cần phải kiểm soát, giám sát.

Ngoài ra, xuất phát từ bản chất của chế độ và mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nhân dân không chỉ giám sát đối với hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, đảng viên, mà còn giám sát cả việc tu dưỡng đạo đức, lối sống của họ, nhất là trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, với cộng đồng dân cư nơi họ sinh sống.

Phạm vi và nội dung giám sát của Nhân dân

Như đã nêu ở trên, mọi cơ quan nhà nước, tổ chức và nhiều cá nhân trong xã hội đều có thể được coi là đối tượng giám sát của Nhân dân. Đối tượng giám sát rộng, đa dạng như vậy dễ dẫn đến việc khó xác định phạm vi và nội dung giám sát cụ thể. Do vậy, để hoạt động giám sát của Nhân dân có hiệu lực và hiệu quả, tránh sự phân tán, chồng chéo hoặc bỏ sót trong quá trình thực hiện, cần xác định rõ và tập trung vào phạm vi và nội dung giám sát sau:

– Hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

– Hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan thực hiện quyền tư pháp.

– Việc thực hiện công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, nhất là của đội ngũ cán bộ, công chức của chính quyền cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn).

– Việc thực hiện chính sách, pháp luật và việc tu dưỡng đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên sinh sống tại cộng đồng dân cư.

Mục đích hoạt động giám sát của Nhân dân

Mục đích chủ yếu của hoạt động giám sát của Nhân dân là nhằm góp phần thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kiến nghị khắc phục những sai sót, yếu kém và sửa đổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp; phát hiện những nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy dân chủ, động viên Nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước.

CÁC NGUYÊN TẮC TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN

Thứ nhất, hoạt động giám sát của Nhân dân phải xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

Nguyên tắc này yêu cầu hoạt động giám sát phải hướng vào những đối tượng và nội dung gắn trực tiếp với các quyền, lợi ích và cuộc sống của người dân; các tổ chức, cá nhân cần phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình để xem xét một cách khách quan, lựa chọn chính xác những vấn đề có ý nghĩa quan trọng, bức thiết nhất, có ảnh hưởng và tác động lớn nhất trong các yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân, của lợi ích quốc gia, cộng đồng hoặc cá nhân mình (đối với cá nhân) để tiến hành giám sát.

Hoạt động giám sát phải luôn xuất phát từ góc độ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân để theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị xử lý đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể (hoặc đã) có các hành vi tác động bất lợi đến cuộc sống của Nhân dân, ảnh hưởng đến các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân để bảo đảm rằng các cơ quan này không lạm dụng quyền lực nhà nước mà Nhân dân đã trao cho họ để đi ngược lại lợi ích của Nhân dân, trước hết là trong việc ban hành, tổ chức thực hiện những chính sách, quy định của pháp luật có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân.

Thứ hai, bảo đảm và tạo điều kiện để người dân và các tổ chức đại diện của Nhân dân tham gia hoạt động giám sát.

Hoạt động giám sát của Nhân dân phải bảo đảm sự tham gia của Nhân dân, của các tổ chức đại diện cho Nhân dân, trước hết là Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên Mặt trận. Bởi vì, hoạt động giám sát của Nhân dân tất yếu phải do Nhân dân thực hiện trực tiếp, hoặc thông qua đại diện trực tiếp của mình là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận với tư cách là người “đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân”12. Đồng thời, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ thể hiện đúng với tính chất là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức xã hội khác khi mà mọi hoạt động của Mặt trận, trong đó có hoạt động giám sát luôn có sự hiện diện của các tổ chức thành viên, của Nhân dân.

Nguyên tắc này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp với các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp trong việc hiệp thương, xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình phối hợp giám sát. Các chương trình này phải có sự thống nhất trong phân công, thực hiện nhiệm vụ theo hướng gắn với chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của từng tổ chức và trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng và thiện chí hợp tác.

Các chủ thể thực hiện hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình xây dựng các chương trình, kế hoạch giám sát phải quan tâm tới việc huy động rộng rãi, hiệu quả sự tham gia của người dân. Ở Trung ương, đó có thể là các chuyên gia, các nhà khoa học, những người có kinh nghiệm thực tiễn… là những người có thể đóng góp cho việc giám sát hoạt động xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Ở địa phương, nhất là ở cấp cơ sở, cần phải huy động được sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, trong đó đặc biệt chú trọng công tác vận động sự tham gia của những người có uy tín, có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng ở địa phương tham gia vào hoạt động giám sát. Ngoài ra, cần phát huy vai trò của các Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng tại cơ sở như những hình thức giám sát có tính tự quản và dân chủ nhất của Nhân dân.

Thứ ba, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự tuân thủ Hiến pháp, pháp luật.

Giám sát đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực thi quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị là hoạt động thể hiện ở mức cao nhất quyền dân chủ của Nhân dân. Quy mô, số lượng và mức độ thường xuyên của hoạt động giám sát càng lớn, chất lượng và hiệu quả giám sát càng cao thì mức độ tác động của hoạt động này đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát càng lớn. Vì vậy, nếu không có một khuôn khổ chính trị, pháp lý phù hợp cũng như ý thức và thực tiễn thực thi bảo đảm tuân thủ chính sách, chủ trương của Đảng và hiến pháp, pháp luật nghiêm chỉnh thì khó tránh khỏi những tác động không phù hợp và bất lợi cho đối tượng bị giám sát, nhất là, khi mà hoạt động giám sát có thể là do rất nhiều các chủ thể, các nhóm chủ thể khác nhau, với những nhận thức, lợi ích, động cơ và mục tiêu giám sát… khác nhau thực hiện.

Bên cạnh đó, cũng như mọi hoạt động có tính quyền lực khác, đặc biệt là các hoạt động có tính chất khá tương đồng do các cơ quan, tổ chức đảng, nhà nước thực hiện13, hoạt động giám sát của Nhân dân luôn tiềm ẩn xu hướng bị lạm quyền, thậm chí là bị lợi dụng vì mục đích và lợi ích cá nhân, cục bộ. Trên thực tế, đã không hiếm xảy ra những trường hợp cá nhân hoặc một nhóm người đã lạm dụng quyền dân chủ, quyền giám sát để gây áp lực đối với chính quyền nhằm phục vụ cho lợi ích cục bộ của mình14.

Để khắc phục nguy cơ và những ảnh hưởng tiêu cực như nêu trên, phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự tuân thủ nghiêm Hiến pháp và pháp luật trong việc xây dựng thể chế, xác lập cơ chế và vận hành hoạt động giám sát của Nhân dân một cách đầy đủ, chặt chẽ. Việc xây dựng và thực hiện các quy định về quyền và hoạt động giám sát của Nhân dân phải tuân thủ đúng chủ trương của Đảng, quy định của Hiến pháp, phù hợp với các quy định khác trong hệ thống pháp luật.

Thứ tư, bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động giám sát của Nhân dân.

Pháp luật phải quy định toàn diện, đầy đủ, cụ thể và rõ ràng các vấn đề về quyền và quy trình, thủ tục thực hiện hoạt động giám sát của Nhân dân. Việc tiến hành các hoạt động giám sát trên thực tế phải được tiến hành theo những quy trình, cách thức đã được pháp luật quy định, được thông báo công khai cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân được giám sát. Các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình giám sát đều phải được pháp luật quy định và được thu thập, xử lý theo các quy trình, thủ tục rõ ràng và có thể kiểm chứng. Các văn bản thông báo kết quả giám sát, văn bản kiến nghị sau giám sát phải được thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát. Ngoài ra, hoạt động giám sát rất cần có sự tham gia chứng kiến, đưa tin của các phương tiện truyền thông, trừ những trường hợp mà việc đưa tin có thể gây bất lợi cho hoạt động giám sát hoặc tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội…

Thứ năm, không trùng lắp và làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát.

Như đã nêu, hiện nay có nhiều hình thức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát,… do các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong hệ thống chính trị cùng thực hiện. Vì vậy, trên thực tế hoàn toàn có thể xảy ra tình trạng các hoạt động này thực hiện bị trùng lắp, chồng chéo, gây khó khăn, cản trở đối với hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được thanh tra, kiểm tra, giám sát… Do đó, về quy định pháp luật, cần phân định rõ về chủ thể, quyền và trách nhiệm của các chủ thể, nội dung, phương thức và biện pháp giám sát.

Về tổ chức thực hiện, giữa hoạt động giám sát của các tổ chức đại diện cho Nhân dân, như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận với các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, kiểm sát của Đảng, Nhà nước cần thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của mình; không để xảy ra tình trạng chồng chéo hay bỏ sót lĩnh vực, địa bàn, hành vi, đối tượng cần phải giám sát.

Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, hoạt động giám sát của Nhân dân còn yêu cầu phải bảo đảm các nguyên tắc khác như: Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa hoạt động giám sát của Nhân dân với hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra của cơ quan nhà nước; Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện, xem xét, giải trình và thực hiện nghiêm túc các kiến nghị sau giám sát của Nhân dân…

CÁC HÌNH THỨC GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN

Theo quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện, Nhân dân thực hiện quyền giám sát thông qua rất nhiều hình thức khác nhau. Trong đó, có những hình thức giám sát cơ bản sau.

Thứ nhất, giám sát trực tiếp của tổ chức, cá nhân công dân thông qua góp ý, phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hình thức giám sát này có thể được tổ chức, cá nhân công dân thực hiện thường xuyên (theo dõi, góp ý, kiến nghị) hoặc đột xuất khi phát sinh tình huống cho rằng quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức mình chưa thỏa đáng, bị vi phạm (khiếu nại) hoặc cho rằng có hành vi vi phạm, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân…

Thứ hai, giám sát thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức đại diện trực tiếp rộng rãi, đông đảo nhất của Nhân dân, là Nhân dân được tổ chức lại để đại diện cho Nhân dân trong quan hệ với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị để tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, “đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân”. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc cũng chính là giám sát của Nhân dân, do Nhân dân thực hiện, trong đó Mặt trận Tổ quốc đóng vai trò là người tổ chức và là lực lượng nòng cốt của Nhân dân.

Thứ ba, giám sát thông qua các thiết chế tự quản như Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và các hình thức tự quản khác được tổ chức ở cơ sở, cộng đồng. Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của Nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước. Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng là hình thức giám sát của cộng đồng cư dân đối với các hoạt động đầu tư, các dự án đầu tư công trên địa bàn xã.

Thứ tư, giám sát thông qua báo chí và các phương tiện truyền thông. Đây là một kênh giám sát quan trọng và hiệu quả của Nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước. Báo chí và các phương tiện truyền thông khác thể hiện nhận thức, ý chí và nguyện vọng của Nhân dân qua theo dõi, phát hiện, đánh giá, nhận xét, kiến nghị, đề nghị những vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy, hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước nói chung và việc thực thi công vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nói riêng.

Mặc dù không có tính quyền lực nhà nước, nhưng giám sát của báo chí và các phương tiện truyền thông có tác dụng rất lớn bởi các thông tin, kiến nghị, đề nghị chính xác và phù hợp sẽ tạo ra sức mạnh dư luận xã hội, tác động và có thể dẫn đến những thay đổi về chính sách, pháp luật, các quyết định hành chính, các dự án, chương trình… về kinh tế – xã hội công cũng như về tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức cho phù hợp với lợi ích chung và đòi hỏi của xã hội.

Thứ năm, giám sát thông qua các hoạt động tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Nhân dân theo dõi, nắm bắt và thể hiện ý kiến, nguyện vọng và yêu cầu đối với Đảng, Nhà nước. Đây là hình thức quan trọng để Nhân dân giám sát đối với tổ chức và hoạt động của tổ chức Đảng, bộ máy nhà nước, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước. Theo đó, Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trên nhiều phương diện như: tham gia góp ý dự thảo các văn kiện, chủ trương lớn của Đảng; tham gia góp ý công tác nhân sự và hoạt động của tổ chức Đảng; tham gia bầu cử để bầu ra các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia kiến nghị, góp ý xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia góp ý đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước; tham gia bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh chủ chốt do các cơ quan quyền lực các cấp bầu, phê chuẩn…).

Chú thích:

1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.92.

2. Như: Đại Từ điển Tiếng Việt (GS. Nguyễn Như Ý chủ biên); Từ điển Luật học (của Viện Nghiên cứu khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp); Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học); Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam (Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật); Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…

3,4. TS. Hoàng Minh Hội (chủ biên), Cơ chế pháp lý về giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội đối với các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Lý luận chính trị, H.2019, tr.10.

5. TS. Nguyễn Mạnh Bình, Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với việc thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay (Sách tham khảo), Nxb. Chính trị quốc gia, H.2012, tr.15.

6. PGS.TS. Tạ Ngọc Tấn, Giám sát xã hội như một giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Tạp chí Cộng sản (số 16), tháng 6/2006.

7. PGS.TS Trần Hậu, Các hình thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX.10.06/06-10, tr.56.

8. GS.TSKH. Đào Trí Úc (Chủ biên), Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn (xuất bản lần thứ hai), Nxb Chính trị quốc gia, H.2010, tr.2015, 2016.

9. Như: Quyền bầu cử và ứng cử (Điều 2 Hiến pháp năm 2013); quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25); quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước (Điều 28); quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 30).

10. Khoản 2 Điều 4 Hiến pháp năm 2013.

11. Khoản 3 Điều 4 Hiến pháp năm 2013.

12. Điều 9 Hiến pháp năm 2013, Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.

13. Như: Hoạt động giám sát, kiểm tra của tổ chức đảng, hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, hoạt động kiểm sát của Viện Kiểm sát nhân dân, hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước…

14. Như: Trong một số trường hợp tranh chấp đất đai, khiếu kiện tập thể xảy ra ở một số địa phương thời gian qua.

Nguyễn Quang Minh – Tiến sĩ, cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam