Cho mượn tài sản, hàng hóa có phải xuất hóa đơn không? - Học kế toán thuế hồ chí minh

Cho mượn tài sản, hàng hóa có phải xuất hóa đơn không?

Cho mượn tài sản, hàng hóa có phải xuất hóa đơn không? Căn cứ quy định nào để biết được nguyên tắc để lập hóa đơn? Thủ tục, chứng từ gồm những gì? Bài viết dưới đây sẽ gỡ bỏ khúc mắc đó của bạn, cùng tham khảo nhé.

cho-muon-tai-san-hang-hoa-co-phai-xuat-hoa-don-khong

Hình ảnh: Cho mượn tài sản, hàng hóa có phải xuất hóa đơn không?

*Căn cứ:

– Điểm b, Khoản 1, Điều 16 Thông tư 39/2014/TT-BTC quy định nguyên tắc lập hóa đơn

– Điều 3 khoản 7 Thông tư số 26/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung điểm b Khoản 1 Điều 16 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 119/2014/TT-BTC)

– Tại khoản 2 điều 3 Thông tư 119/2014/TT-BTC

– Công văn Số: 72/TCT-ĐTNN ngày 06 tháng 01 năm 2006 V/v: Hóa đơn, chứng từ đối với hoạt động cho vay, cho mượn hàng hóa, nguyên vật liệu của doanh nghiệp

– Công văn Số: 4755/CT-TTHT ngày 21 tháng 6 năm 2012 V/v : chính sách thuế Hóa đơn, chứng từ đối với hoạt động cho vay, cho mượn hàng hóa, nguyên vật liệu của doanh nghiệp

– Điều 512, Điều 517 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

*Theo đó:

– Về hóa đơn: Giai đoạn Từ 2014 trở vể trước, hàng hóa cho vay , cho mượn vẫn phải xuất hóa đơn, nhưng không kê khai tính thuế, đối với hóa đơn GTGT dòng tiền thuế GTGT gạch chéo và hợp đồng vay mượn vật tư là chứng từ vận chuyển để lưu thông và để xuất trình với cơ quan thuế địa phương trong kỳ kê khai tính thuế” và cũng là chứng từ để xuất trình khi lưu hàng hóa lưu thông trên đường khi giải trình với cơ quan chức năng khác

Giai đoạn Từ 2014 trở đi doanh nghiệp xuất vật tư, hàng hóa dưới hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả, nếu có hợp đồng và các chứng từ liên quan đến giao dịch phù hợp thì doanh nghiệp cho mượn và đi mượn không cần phải lập hóa đơn, tính, nộp thuế GTGT.

– Luật dân sự:

+ Hợp đồng mượn tài sản: “ Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”.

Theo đó: bên cho mượn là chủ sở hữu đối với tài sản và có quyền định đoạt đối với tài sản cho mượn. Người mượn không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản khi được sự ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.

Chủ sở hữu tài sản mới là bên có quyền định đoạt tài sản, bên đi mượn tài sản chỉ có quyền định đoạt (bán tài sản) khi có sự ủy quyền của bên cho mượn, và khi đó giao dịch mượn hàng này sẽ được coi là giao dịch mua bán hàng hóa và sẽ phải xuất hóa đơn , tính thuế GTGT bình thường

*Chứng từ hồ sơ:

– Hợp đồng vay mượn

– Phiếu Xuất kho

– Biên bản bàn giao tài sản

– Biên bản kiểm kê số lượng chất lượng hàng hóa, nguyên vật liệu, tài sản

Nguồn: Tổng hợp

Bài viết: “Cho mượn tài sản, hàng hóa có phải xuất hóa đơn không?”

hoc-ke-toan-thuc-hanh

Có thể bạn quan tâm:

Câu hỏi:
Kính gửi: Bộ Tài Chính Tôi đang vướn một vấn đề như sau rất mong BTC hướng dẫn giúp:
– Theo Thông tư 119/2014/TT-BTC tại Điều 5, Khoản 3, Điểm a Sửa đổi, bổ sung hướng dẫn tại điểm b, c khoản 1 Điều 16 như sau: ( có hiệu lực từ ngày 01/09/2014)
“b) Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất.”
– Nếu theo TT 119 thì việc mượn hàng hóa thì bên cho mượn không cần phải xuất hóa đơn đầu ra cho bên mượn.
– Vậy nếu đơn vị tôi mượn hàng hóa của một NCC hoặc đối tác để bán ra, chứng từ kèm theo cho việc mượn hàng là Hợp đồng mượn, BB bàn giao hàng hóa, tôi đã dùng hàng hóa đó để bán ra và xuất hóa đơn đầu ra cho khách hàng.
– Khi nào tôi mua được hàng, có hóa đơn tài chính đầy đủ thì tôi xuất trả lại hàng cho bên cho mượn.
– Vậy hàng mượn của tôi, khi xuất bán có được tính giá vốn hợp lý hợp lệ không? Rất mong nhận được sự phản hồi của BCT. Chân thành cảm ơn!

Trả lời từ Cổng thông tin điện tử của Bộ tài chính:

Tại Điều 512, Điều 517 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định:
– Hợp đồng mượn tài sản: “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”.
– Quyền của bên cho mượn tài sản: “ … Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thỏa thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn…”

Như vậy, bên cho mượn là chủ sở hữu đối với tài sản và có quyền định đoạt đối với tài sản cho mượn. Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản khi được sự ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, khoản 2a Điều 4 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính thì thời điểm xác định thuế giá trị gia tăng (GTGT), xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp trong Hợp đồng “mượn” hàng hóa có thỏa thuận bên mượn được phép bán hàng hóa của bên cho mượn thì Hợp đồng “mượn” hàng hóa nêu trên thực chất là Hợp đồng mua bán hàng hóa, bên bán (tức bên cho “mượn”) phải xuất hóa đơn bán hàng hóa cho bên mua (bên “mượn”) theo quy định. Trường hợp Công ty của Ông (Bà) có mượn hàng hóa của nhà cung cấp hoặc đối tác theo đúng quy định về Hợp đồng mượn tài sản (hàng hóa) quy định tại Bộ luật dân sự, sau đó Công ty của Ông (Bà) đem tài sản (hàng hóa) mượn để bán ra cho khách hàng là không đúng quy định vì hàng hóa đó không thuộc quyền sở hữu và quyền định đoạt của Công ty của Ông (Bà).

  • Related Posts

    Một bình luận

    1. Chau
      28/01/2019 at 15:06 - Reply

      Vậy nếu như mượn nhà làm văn phòng rồi Công ty cho công ty khác thuê lại thì có đúng luật không ạ?

    Thêm bình luận