Giải đáp thắc mắc về trợ cấp thôi việc, nghỉ hưu - Học kế toán thuế hồ chí minh

Giải đáp thắc mắc về trợ cấp thôi việc, nghỉ hưu

Giải đáp thắc mắc về trợ cấp thôi việc, nghỉ hưu. Bạn đang công tác tại doanh nghiệp, bạn muốn thôi việc hoặc nghỉ hưu? Câu hỏi đặt ra là bạn đã nhận thông báo nghỉ hưu có được nâng lương trước hạn hay không? hay bạn đã nhận trợ cấp thôi việc thì có được tính hưởng BHXH? hoặc không đủ điều kiện nghỉ hưu có được trợ cấp khi thôi việc hay không?,… những thắc mắc đó sẽ được giải đáp trong bài viết dưới đây.

Giải đáp thắc mắc về trợ cấp thôi việc, nghỉ hưu

Hình ảnh: Giải đáp thắc mắc về trợ cấp thôi việc, nghỉ hưu

1. Đã nhận trợ cấp thôi việc, có được tính hưởng BHXH?

Hỏi:

Ông Chiến là giáo viên từ năm 1975. Đến năm 1991, ông được nghỉ việc, có quyết định của Sở Giáo dục và Đào tạo. Nhà trường tính thời gian công tác của ông là 16 năm và giải quyết trợ cấp mỗi năm nửa tháng lương. Nay ông Chiến tiếp tục dạy học ở một trường tư thục và được nhà trường đóng BHXH, BHYT bắt buộc từ năm 2002 và từ ngày 1/1/2009 đóng thêm bảo hiểm thất nghiệp.

Ông Chiến hỏi, chế độ trợ cấp khi ông nghỉ việc năm 1991 được hiểu như thế nào? Thời gian công tác của ông từ năm 1975 đến năm 1991 có được tính là thời gian đã đóng BHXH để cộng nối với thời gian đóng BHXH bắt buộc từ 2002 đến nay không?

Trả lời:

Vào thời điểm năm 1991 khi ông Đỗ Văn Chiến nghỉ việc, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 227-HĐBT ngày 29/12/1987 về việc sắp xếp lại tổ chức, tinh giản biên chế ở các cơ quan hành chính sự nghiệp và Quyết định 176-HĐBT ngày 9/10/1989 về việc sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc dân.

Theo đó, sau khi tinh giản, sắp xếp lại lao động theo biên chế mới, đối với số cán bộ, công nhân viên chức không bố trí ở lại trong biên chế cơ quan, thì được giải quyết thôi việc và được hưởng trợ cấp một lần, cứ mỗi năm làm việc thì được hưởng trợ cấp một tháng lương.

Theo Khoản 6, Điều 123 Luật BHXH năm 2014:

Người lao động có thời gian làm việc trong khu vực Nhà nước trước ngày 1/1/1995 nếu đủ điều kiện hưởng nhưng chưa được giải quyết trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp một lần, trợ cấp xuất ngũ, phục viên thì thời gian đó được tính là thời gian đã đóng BHXH.

Căn cứ thông tin ông Đỗ Văn Chiến cung cấp, nhận thấy vào năm 1991 ông đã nhận trợ cấp một lần khi thôi việc theo chính sách sắp xếp lại tổ chức, tinh giản biên chế cho thời gian 16 năm công tác trong khu vực Nhà nước từ năm 1975 đến năm 1991 (có thể do lâu ngày ông không nhớ là đã được hưởng trợ cấp mỗi năm một tháng lương hay một nửa tháng lương).

Căn cứ quy định tại Khoản 6, Điều 123 Luật BHXH năm 2014, thời gian ông Chiến làm giáo viên trường công lập từ năm 1975 đến 1991 đã nhận trợ cấp một lần khi thôi việc nên không được tính là thời gian đã đóng BHXH.

2. Không đủ điều kiện nghỉ hưu có được trợ cấp khi thôi việc?

Hỏi:

Bà Mai làm việc theo hợp đồng lao động tại đơn vị sự nghiệp công lập từ ngày 1/12/1995. Đến ngày 30/6/2013, bà đủ 55 tuổi, đơn vị đã ra quyết định nghỉ việc đối với bà. Tính đến thời điểm nghỉ việc, bà đã đóng BHXH bắt buộc được 17 năm 5 tháng. Bà Mai chưa đủ 20 năm đóng BHXH nên không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí, đơn vị nơi bà làm việc cũng không chi trả trợ cấp thôi việc cho bà. Bà Mai hỏi, để được trả trợ cấp thôi việc bà cần làm thế nào?

Trả lời:

Theo Khoản 1, Điều 48 Bộ luật Lao động số 10/2012.QH13 (có hiệu lực kể từ ngày 1/5/2013) có quy định:

Khi HĐLĐ chấm dứt theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Theo đó, chỉ có 2 trường hợp nêu ở Khoản 4 và Khoản 8 Điều 36 Bộ luật Lao động là, trường hợp người lao động chấm dứt HĐLĐ khi có đủ 2 điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 và trường hợp người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại Khoản 3, Điều 125 của Bộ luật này thì không được hưởng trợ cấp thôi việc.

Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp bà Mai, là người lao động làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn tại đơn vị sự nghiệp công lập từ ngày 1/12/1995, đến ngày 30/6/2013 khi bà đủ 55 tuổi, đơn vị đã ra quyết định nghỉ việc đối với bà. Mặc dù bà Mai đã đủ tuổi nghỉ hưu, nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH, nên bà không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí. Trường hợp bà Mai được hưởng trợ cấp thôi việc.

Đơn vị sự nghiệp công lập nơi bà Mai làm việc có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho bà theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian bà Mai đã làm việc thực tế cho đơn vị trừ đi thời gian bà Mai đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ ngày 1/1/2009 cho đến khi nghỉ việc.

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo HĐLĐ của 6 tháng liền kề trước khi bà Mai nghỉ việc.

Nếu khi nghỉ việc bà Mai chưa được nhận trợ cấp thôi việc, bà có thể làm đơn đề nghị người đứng đầu đơn vị sự nghiệp yêu cầu đơn vị chi trả.

Bạn đang xem: “Giải đáp thắc mắc về trợ cấp thôi việc, nghỉ hưu”

** Trường hợp xảy ra tranh chấp lao động cá nhân

Trường hợp đơn vị không chịu chi trả trợ cấp thôi việc, bà Mai có thể yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện việc hòa giải tranh chấp, hoặc không cần thông qua thủ tục hòa giải, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp.

Theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Lao động, thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 6 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 1 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

3. Đã nhận thông báo nghỉ hưu có được nâng lương trước hạn?

Hỏi:

Ông Dũng là trưởng phòng của một đơn vị sự nghiệp công lập tại TP. Hồ Chí Minh, hưởng lương chuyên viên bậc 6/9, hệ số 3,99 từ ngày 1/7/2014. Thời gian nâng bậc lương tiếp theo là ngày 1/7/2017.Ngày 1/3/2016, ông Dũng có thông báo nghỉ hưu. Ngày 4/5/2016, đơn vị ban hành quyết định ông Dũng sẽ nghỉ hưu từ ngày 1/8/2016. Vậy, trường hợp của ông Dũng được nâng lương trước hạn lên bậc 7/9 vào ngày, tháng, năm nào?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 08/2013/TT-BNV ngày 31/7/2013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, quy định:

Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã có thông báo nghỉ hưu, nếu trong thời gian giữ bậc đạt đủ 2 tiêu chuẩn quy định tại Khoản 2, Điều 2 Thông tư này, chưa xếp bậc lương cuối cùng trong ngạch hoặc trong chức danh và kể từ ngày có thông báo nghỉ hưu đến trước ngày nghỉ hưu còn thiếu từ 12 tháng trở xuống để được nâng bậc lương thường xuyên theo quy định thì được nâng một bậc lương trước thời hạn 12 tháng so với thời gian quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư này.

Trường hợp ông Nguyễn Thế Dũng đang hưởng lương chuyên viên bậc 6/9 hệ số 3,99 từ ngày 1/7/2014. Theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 2 Thông tư 08/2013/TT-BNV về thời gian giữ bậc để xét nâng bậc lương thường xuyên, thì sau 3 năm (đủ 36 tháng) giữ lương chuyên viên bậc 6/9, đến ngày 1/7/2017 ông Dũng sẽ được xét nâng lương bậc 7/9.

Theo nội dung phản ánh, nhận thấy, trong khoảng thời gian kể từ ngày có thông báo nghỉ hưu (1/3/2016) đến trước ngày nghỉ hưu (1/8/2016), vào thời điểm ngày 1/7/2016, ông Dũng còn thiếu 12 tháng là đủ thời gian giữ bậc (36 tháng) để được xét nâng bậc lương thường xuyên vào ngày 1/7/2017, thỏa mãn điều kiện quy định tại đoạn cuối Khoản 2, Điều 3, Thông tư số 08/2013/TT-BNV: “Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã có thông báo nghỉ hưu… kể từ ngày có thông báo nghỉ hưu đến trước ngày nghỉ hưu còn thiếu từ 12 tháng trở xuống để được nâng bậc lương thường xuyên theo quy định thì được nâng một bậc lương trước thời hạn 12 tháng…”.

Theo đó, ông Dũng được nâng bậc lương trước thời hạn, hưởng lương chuyên viên bậc 7/9 hệ số 4,32, kể từ ngày 1/7/2016, với điều kiện trong thời gian giữ bậc 6/9 ông Dũng đạt đủ 2 tiêu chuẩn:

– Được cấp có thẩm quyền đánh giá từ mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên.

– Không vi phạm kỷ luật một trong các hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức.

(Theo Luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng luật sư Khánh Hưng – Đoàn luật sư Hà Nội)

Bài viết: “Giải đáp thắc mắc về trợ cấp thôi việc, nghỉ hưu”

Có thể bạn quan tâm: “Bộ luật lao động – Luật số 10/2012/QH13 của Quốc hội”

Tải Bộ luận lao động – luật số 10/2012/QH13 của Quốc hội (tải về tại đây)

Trích đoạn Bộ luật lao động số 10/2013/QH13

“…

Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của người lao động

1. Người lao động có các quyền sau đây:

a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;

b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;

c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;

d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật;

đ) Đình công.

2. Người lao động có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể;

b) Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động;

c) Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế….”

  • Related Posts

    Thêm bình luận